TÌNH TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG: SỰ KHÁC BIỆT GIỮA CÁC CHỈ SỐ CSSK BÀ MẸ VÀ KHHGĐ LIÊN QUAN ĐẾN DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ ƯỚC TÍNH QUỐC GIA[1]

 

Nghiên cứu “Những rào cản trong tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe bà mẹ và kế hoạch hóa gia đình của đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam” được Quĩ Dân số Liên hợp quốc phối hợp với Bộ Y tế hỗ trợ và đề xuất phạm vi nghiên cứu. Nghiên cứu được Trung tâm nghiên cứu của Trường Đại học Toronto, Canada và Viện Nghiên cứu Phát triển Mekong tại Hà Nội thực hiện năm 2016. Báo cáo được phát triển dựa trên số liệu điều tra gốc từ khoảng 4.600 phụ nữ DTTS, thảo luận nhóm tập trung (TLN) với hơn 100 phụ nữ DTTS và phỏng vấn sâu các cán bộ y tế, các trưởng thôn và trưởng bản. Báo cáo bao gồm các chỉ số quan trọng về sức khỏe sinh sản (SKSS), sức khỏe bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em trong mối tương quan với mức độ tiếp cận các dịch vụ và được chia theo bốn khía cạnh của sự bất bình đẳng (nơi cư trú, trình độ học vấn, tình trạng kinh tế và nhóm dân tộc).

 

Phần này xác định những yếu tố liên quan đến việc sử dụng các dịch vụ CSSKBM và KHHGĐ và tóm tắt các xu hướng và sự bất bình đẳng của những yếu tố này trong các cộng đồng DTTS. Chỉ số tiếp cận tổng hợp là một chỉ số riêng. Chỉ số này tóm tắt độ bao phủ của các dịch vụ về sức khỏe bà mẹ (SKBM) và các dịch vụ chăm sóc SKSS. Chỉ số này bao gồm 09 chỉ số con: tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc trước sinh (khám thai ít nhất 01 lần), tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc trước sinh (khám thai ít nhất 4 lần), chăm sóc trước sinh trong vòng 16 tuần đầu của thai kỳ, nội dung chăm sóc, hỗ trợ của cán bộ y tế có trình độ chuyên môn trong khi sinh, sinh con tại các CSYT, kiểm tra sức khỏe trẻ sơ sinh trong vòng 48 giờ sau khi sinh, sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại và bảo hiểm y tế. Nhìn chung, tỷ lệ đạt được chỉ số bao phủ tổng hợp các dịch vụ chăm sóc SKSS đối với những phụ nữ DTTS tham gia trong nghiên cứu là 46%, với sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm, dao động trong khoảng từ dưới 35% đến hơn 80%. Chỉ số tiếp cận tổng hợp có thể được sử dụng là một chỉ số trung gian đo lường sự tiến bộ trong việc đạt được mục tiêu tiếp cận phổ cập các dịch vụ chăm sóc sức khỏe (giá trị tối đa của chỉ số này 100%).

 

Phân tích hồi quy tuyến tính được thực hiện để xác định những biến số quan trọng về tỷ lệ tiếp cận và sử dụng các dịch vụ SKBM và SKSS. Kết quả cho thấy tất cả năm yếu tố kinh tế - xã hội quyết định sức khỏe trong nghiên cứu này đều có sự liên quan có ý nghĩa thống kê (p < 0,001) với tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ SKBM và SKSS.

 

Phần trình bày kết quả của hơn 30 chỉ số sử dụng dịch vụ CSSKBM và KHHGĐ của phụ nữ DTTS, nghiên cứu cho thấy sự bất bình đẳng tồn tại ở tất cả các nhóm dân tộc thiểu số so với các số liệu toàn quốc. Sự khác biệt lớn nhất là tỷ lệ sử dụng dịch vụ CSTS (khám thai ít nhất 4 lần), tỷ lệ phụ nữ sinh con tại các cơ sở y tế (CSYT), tỷ lệ các ca sinh có sự hỗ trợ của cán bộ y tế được đào tạo chuyên môn và các nội dung cụ thể của dịch vụ CSTS. Sự bất bình đẳng cũng tồn tại về CSTS đối với chỉ tiêu khám thai ít nhất một lần, mặc dù ở mức độ thấp hơn so với bốn chỉ số nói trên.

  • Tỷ lệ phụ nữ DTTS tiếp cận các dịch vụ chăm sóc trước sinh (khám thai ít nhất 04 lần) thấp hơn 58 điểm phần trăm so với tỷ lệ chung toàn quốc (16% so với 74%).
  • Tỷ lệ sinh con tại CSYT giữa những phụ nữ DTTS tham gia trong nghiên cứu thấp hơn ước tính quốc gia là 53 điểm phần trăm (41% so với 94%).
  • Tỷ lệ các ca đẻ có sự hỗ trợ của cán bộ y tế có trình độ chuyên môn thấp hơn 45 điểm phần trăm giữa những phụ nữ DTTS tham gia nghiên cứu so với ước tính quốc gia (49% so với 94%).
  • Tỷ lệ phụ nữ DTTS tham gia nghiên cứu được chăm sóc đầy đủ các nội dung trước khi sinh (ví dụ: đo huyết áp, xét nghiệm máu và nước tiểu) thấp hơn ước tính quốc gia 38 điểm phần trăm (18% so với 56%)

Các phân tích mô tả giúp hiểu rõ hơn về việc tiếp cận dịch vụ CSSKBM trong các nhóm phụ nữ DTTS theo các yếu tố xã hội liên quan tới sức khỏe, bao gồm: nơi cư trú, tình trạng kinh tế, trình độ học vấn và dân tộc.

  • Liên quan đến nơi cư trú, sự khác biệt trong việc tiếp cận dịch vụ là hơn 20 điểm phần trăm giữa Đắk Nông, Bắc Kạn và bốn tỉnh khác (Sơn La, Lai Châu, Kon Tum, Gia Lai). Tình trạng bất bình đẳng liên quan đến nơi cư trú không nhiều ở bốn tỉnh có tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc CSSKBM thấp nhất.
  • Liên quan đến tình trạng kinh tế, sự khác nhau về tỷ lệ tiếp cận dịch vụ chăm sóc CSSKBM giữa nhóm người giàu nhất và nhóm nghèo nhất là hơn 40 điểm phần trăm; tỷ lệ tiếp cận dịch vụ trung bình ở nhóm nghèo nhất là 25% và ở nhóm giàu nhất là 67%.
  • Liên quan đến trình độ học vấn, sự khác biệt trong tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc CSSKBM là 50 điểm phần trăm; tỷ lệ tiếp cận trung bình trong nhóm người không biết chữ là 25% và trong nhóm người tốt nghiệp cấp II hoặc cao hơn là 75%.
  • Liên quan đến nhóm dân tộc, sự khác biệt trong tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc CSSKBM giữa dân tộc Tày và các nhóm dân tộc khác là 25 điểm phần trăm. Ba Na và H’mong là các nhóm có tỷ lệ tiếp cận thấp nhất (dưới 35%).

Nhìn chung, kết quả cho thấy sự khác biệt lớn ở các nhóm DTTS về tỷ lệ tiếp cận tổng hợp các dịch vụ CSSKBM.

 

[1] TrÍch dẫn báo cáo “Những rào cản trong tiếp cận dịch vụ CCSKBM và KHHGĐ của cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam” UNFPA-12/2016